Tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, những giải pháp nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông thời gian tới

Tác giả: TS. LÊ HUY TRÍ PHÓ GIÁM ĐỐC TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU ATGT - HỌC VIỆN CSND
02/02/2018
  

Theo số liệu thống kê của Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt (CSGT ĐB - ĐS) Công an thành phố Hồ Chí Minh, trong ba năm (từ 2011 đến 2013) trên địa bàn thành phố đã xảy ra 2.587 vụ tai nạn giao thông (TNGT) từ ít nghiêm trọng trở lên, làm chết 2.435 người và làm 1.186 người bị thương. Năm xảy ra TNGT nhiều nhất là năm 2011 với 1.020 vụ, làm chết 868 người và làm 496 người bị thương, năm thấp nhất là năm 2012 với 888 vụ, làm chết 786 người và làm 335 người bị thương. Trung bình mỗi năm trên địa bàn thành phố xảy ra 952 vụ, làm 811 người chết và làm 395 người bị thương. Mặc dù năm 2013 tình hình TNGT có dấu hiệu phức tạp tăng cao hơn so với năm 2012, tuy nhiên trong giai đoạn 2011-2013 tình hình TNGT vẫn có xu hướng giảm. Báo cáo thống kê của Cục CSGT ĐB - ĐS cho thấy, thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương có số vụ TNGT từ ít nghiêm trọng trở lên với số người chết, số người bị thương do TNGT cao nhất trong cả nước.

Thực hiện mục tiêu giảm 5% số vụ, số người chết, số người bị thương hàng năm so với năm liền kề trước đó theo kế hoạch[1] đã đề ra, 6 tháng đầu năm 2014, các cấp ủy, chính quyền và các sở, ban ngành của Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông và kéo giảm TNGT. Kết quả6 tháng đầu năm 2014 trên địa bàn thành phố xảy ra 402 vụ TNGT đường bộ từ ít nghiêm trọng trở lên, làm 341 người chết, 142 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước giảm 42 vụ (-9%), giảm 30 người chết (-8%), giảm 15 người bị thương (-10%).

Kết quả phân tích tình hình TNGT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua cho thấy:

- Địa bàn xảy ra tai nạn: TNGT xảy ra trên tất cả các tuyến đường trong đó: Quốc lộ: chiếm 8% số vụ, 17% người chết và 13% số người bị thương; Tỉnh lộ: chiếm 3% số vụ, 5% người chết và 6% số người bị thương; Đường nội thành: chiếm 71% số vụ, 51% người chết và 59% số người bị thương; Đường ngoại thành: chiếm 10% số vụ, 19% người chết và 15% số người bị thương; Đường giao nhau: chiếm 6% số vụ, 6% người chết và 6% số người bị thương; Đường nông thôn: chiếm 2% số vụ, 1% người chết và 2% số người bị thương. Điều này cho thấy, TNGT xảy ra nhiều nhất tại các tuyến đường trong khu vực nội thành, tiếp đến là đường ngoại thành, đường quốc lộ và điểm giao cắt giữa các trục đường.

10/68 tuyến đường chính trên địa bàn thành phố xảy ra nhiều vụ tai nạn từ ít nghiêm trọng trở lên bao gồm: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 22, Quốc lộ 13, Quốc lộ 50, tỉnh lộ 10, Xa lộ Hà Nội, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh, Kinh Dương Vương, Mai Chí Thọ. Trong đó, chỉ riêng năm 2013, các tuyến đường đường nói trên đã xảy ra 189/314 vụ tai nạn xảy ra trên 68 tuyến đường chính (chiếm 60,19%), làm chết 165/262 tổng người chết (chiếm 62,97%); chiếm 19,91% tổng số vụ TNGT và 24,19% tổng số người trên toàn địa bàn thành phố.

- Đối tượng gây tai nạn: đối tượng gây TNGT rất đa dạng, trong đó Xe tải: chiếm 8,38% (tổng số vụ); Xe khách: chiếm 1,21%; Xe du lịch: chiếm 2,91%; Xe taxi: 0,52%; Xe buýt: chiếm 1%; Xe đầu kéo (container): chiếm 1,80%; Xe ba bánh, gắn máy: 0,42%; Xe hai bánh, gắn máy: 75,16%; Xe hai, ba bánh đạp điện: 0,94%; Bộ hành: 7,66%. Như vậy, đối tượng gây ra vụ TNGT đường bộ chủ yếu là xe hai bánh, gắn máy (75,16%), xe tải (8,38%), bộ hành (7,66%), xe du lịch (1,8%) và xe khách (1,52%).

Kết quả phân tích cũng cho thấy trong khi TNGT do xe tải và xe buýt có xu hướng giảm thì TNGT do xe du lịch, xe đầu kéo (container), xe ba bánh gắn máy có xu hướng tăng; Các đối tượng khác như xe khách, xe taxi; xe hai, ba bánh đạp, xe điện; xe hai, ba bánh gắn máy và bộ hành tăng, giảm qua các năm và các thời điểm trong năm không ổn định.

Thời gian xảy ra tai nạn: kết quả phân tích cho thấy TNGT trên địa bàn thành phố xảy ra ở tất cả các giờ trong ngày nhưng nhiều nhất vào lúc 15h, 18h, 19h, 20h, 21h và 23h; 19h - 23h là thời gian TNGT nhiều nhất trong ngày, trong đó 18h - 21h mật độ TNGT xảy ra cao nhất; khung giờ xảy ra tai nạn thấp nhất là từ 3h đến 5h và từ 7h đến 9h. Thời điểm 6h sáng TNGT xảy ra nhiều trong khung giờ này.

- Độ tuổi, giới tính thương vong do TNGT: kết quả phân tích cho thấy nam giới chết và bị thương do TNGT chiếm tỉ lệ cao, cụ thể: Chết do TNGT: nam giới chiếm 83%, nữ giới chiếm 17%; Bị thương do TNGT: nam giới chiếm 79%, nữ giới chiếm 21% .

Độ tuổi thương vong chiếm tỉ lệ cao nhất lần lượt là: từ 25 - 30 tuổi (chết chiếm 17,12%, bị thương chiếm 15,04%), từ 31 - 40 tuổi (chết chiếm 16,23%, bị thương chiếm 42,30%), từ 19 - 24 tuổi (chết chiếm 15,06%, bị thương chiếm 15,38%), từ 41 - 50 tuổi (chết chiếm 13,36%, bị thương chiếm 10,25%), từ 51 - 60 tuổi (chết chiếm 10,29%, bị thương chiếm 6,2%) và trên 60 tuổi (chiếm 9,32%, bị thương chiếm 6,66%). Độ tuổi thương vong do TNGT thấp nhất là: từ 0 - 6 tuổi (chết chiếm 1,72%, bị thương chiếm 1,02%), từ 7 - 15 tuổi (chết chiếm 1,85 %, bị thương chiếm 2,73%) và từ 16 - 18 tuổi (chết chiếm 5,77%, bị thương chiếm 8,37%).

Điều này cho thấy, người bị thương vong do tai nạn giao thông chiếm tỉ lệ cao chủ yếu là thanh niên, người trong độ tuổi lao động và đủ độ tuổi cấp giấy phép lái xe mô tô và ô tô theo luật định.

Kết quả phân tích cho thấy: số người chết do TNGT ở các độ tuổi từ 19 - 24 tuổi và từ 51 - 60 tuổi trong năm 2013 mặc dù có xu hướng giảm so với năm 2011 nhưng có xu hướng tăng trở lại so với năm 2012, trong đó nhóm tuổi từ 19 - 24 tuổi tăng vọt so với năm 2012. Riêng độ tuổi trên 60 tăng cao hơn các năm trước đó.Số người bị thương ở các độ tuổi từ 0 - 30 tuổi trong năm 2013 nhìn chung kéo giảm so với các năm trước đó nhưng ở các nhóm tuổi từ 31 - 40, từ 41 - 50 tuổi và từ 51 - 60 tuổi có xu hướng tăng nhẹ so với năm 2012.

- Hình thức đâm va dẫn đến TNGT: Ô tô - Ô tô: chiếm 1% số vụ, 1% số người chết; Ô tô - Xe máy: chiếm 32% số vụ, 32% số người chết; Ô tô - Bộ hành: chiếm 3% số vụ, 3% số người chết; Xe máy - Xe máy: chiếm 31% số vụ, 32% số người chết; Xe máy - Bộ hành: chiếm 11% số vụ, 10% số người chết; Xe máy tự gây: chiếm 14% số vụ, 15% số người chết; Các hình thức khác: chiếm 7% số vụ; 7% số người chết.

Như vậy đâm va dẫn đến TNGT giữa ô tô - xe máy chiếm tỉ lệ cao nhất (32% số vụ, 32% số người chết) tiếp đến là giữa xe máy - xe máy (31% số vụ, 32% số người chết), xe máy tự gây (14% số vụ, 15% số người chết) và xe máy - bộ hành (14% số vụ, 15% số người chết). Đáng chú ý hình thức đâm va dẫn đến TNGT “ô tô - xe máy, xe máy - xe máy” chiếm 63% tổng số vụ và 64% tổng số người chết.

- Nguyên nhân, điều kiện xảy ra tai nạn: qua công tác khám nghiệm hiện trường vụ TNGT của lực lượng CSGT ĐB - ĐS cho thấy nguyên nhân dẫn đến TNGT gồm có: Lưu thông không đúng phần đường, làn đường: 26,63%; Vi phạm tốc độ: 16,29%; Chuyển hướng không đúng quy định: 8,56%; Tránh, vượt không đúng quy định: 8,22%; Lưu thông đường cấm, ngược chiều: 3,53%; Lưu thông đèn đỏ: 0,98%; Sử dụng rượu bia: 1,30%; Tự gây tai nạn: 4,75%; Không giữ khoảng cách an toàn: 1,97%; Không nhường quyền ưu tiên: 3,63%; Không chú ý quan sát: 1,84%; Quy trình, thao tác lái xe: 0,25%; Do kỹ thuật xe: 0,34%; Do người điều khiển xe thô sơ: 0,21%; Do người đi bộ: 6,83%; Đang điều tra làm rõ: 14,66%.

Điều này cho thấy, nguyên nhân dẫn đến TNGTchủ yếu vẫn là do ý thức chấp hành pháp luật giao thông đường bộ của một bộ phận người tham gia giao thông chưa tốt.

Xuất phát từ tình hình, đặc điểm của TNGT thời gian qua, cùng với việc tiếp tục triển khai đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, kế hoạch, biện pháp cấp bách và lâu dài mà Đảng, Chính phủ, các Bộ, ngành và Thành phố đã đề ra nhằm thiết lập trật tự an toàn giao thông và giảm ùn tắc giao thông, TNGT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Các cấp ủy, chính quyền, các sở, ban ngành và các lực lượng cần chú ý thực hiện tốt một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng pháp luật giao thông đường bộ và cuộc vận động xây dựng văn hóa giao thông cho quần chúng nhân dân trên địa bàn thành phố, trong đó cần chú ý hơn đến đối tượng là nam thanh niên trong độ tuổi lao động bởi đây vừa là đối tượng đối tượng gây tai nạn đồng thời là đối tượng bị thương vong chiếm tỉ lệ cao nhất trong thời gian qua. Bên cạnh đó, cần tiếp tục nâng cao chất lượng công tác đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe, công tác đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ nhằm nâng cao trình độ pháp luật, văn hóa khi tham gia giao thông, kỹ năng điều khiển phương tiện, loại bỏ các phương tiện không đảm bảo yêu cầu kĩ thuật lưu thông trên đường, góp phần giảm thiểu TNGT.

Thứ hai, tăng cường công tác quản lý, giám sát hoạt động đối với xe du lịch, xe đầu kéo (container), xe ba bánh gắn máy; xe khách, xe taxi; xe hai, ba bánh đạp, xe điện; xe hai, ba bánh gắn máy nhằm hạn chế đến mức thấp nhất nhất TNGT do các đối tượng này gây ra. Trong đó cần chú ý các đối tượng là xe du lịch và xe đầu kéo (container) bởi vì mặc dù TNGT do các đối tượng này chiếm tỉ lệ thấp nhưng hậu quả gây tai nạn thường đặc biệt nghiêm trọng.

Thứ ba, tổ chức tốt công tác chỉ huy, điều khiển giao thông vào các giờ cao điểm, bố trí tăng cường lực lượng CSGT và các lực lượng ngoài ngành (lực lượng dân quân, thanh niên xung phong) điều hòa, phân luồng, phân tuyến cho các phương tiện đi đúng làn đường, không để cho các phương tiện xe môtô, xe gắn máy đi vào làn đường của ôtô. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trong quãng thời gian từ 15h - 23h (đặc biệt là từ 19h-23h) và tại 10 tuyến đường chính thường xuyên xảy ra TNGT là: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 22, Quốc lộ 13, Quốc lộ 50, tỉnh lộ 10, Xa lộ Hà Nội, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh, Kinh Dương Vương, Mai Chí Thọ.

Thứ tư, tiếp tục nghiên cứu rà soát, tổ chức giao thông hợp lý tại điểm giao cắt giữa các trục đường, phân làn đường hợp lý giữa ô tô và xe máy nhằm hạn chế thấp nhất hậu quả do va chạm giữa các phương tiện; rà soát hệ thống biển báo giao thông để điều chỉnh, bổ sung nhằm giúp người tham gia giao thông dễ dàng quan sát, điều khiển phương tiện đúng hiệu lệnh của biển báo, không đi vào các khu vực đường cấm, đường một chiều, đi sang làn của xe ô tô dẫn đến gây tai nạn; tổ chức giao thông cho người đi bộ hợp lý, đảm bảo an toàn.

Thứ năm: tiếp tục đẩy mạnh phát triển giao thông công cộng trước mắt là nâng cao chất lượng, năng lực vận tải của hệ thống xe buýt, chú ý đến các bến đỗ việc lên xuống của hành khách đảm bảo độ an toàn, đồng thời nhanh chóng nghiên cứu triển khai các đề án hạn chế phương tiện cá nhân, các loại xe như xe 3 bánh tự chế, các loại xích lô, xe kéo và xe thô sơ, nhằm giảm mật độ phương tiện tham gia giao thông nhất là trong giờ cao điểm, tăng khả năng lưu thông của các phương tiện, góp phần kéo giảm tai nạn giao thông trên địa bàn thành phố trong thời gian tới.

Năm xuất bản: 2014
Tổ chức: TẠP CHÍ AN TOÀN GIAO THÔNG

* (bình luận trên đây được giới hạn trong 200 ký tự!)
QNNCHZ